Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá song Việt Nam vẫn là một trong 15 quốc gia có tỉ lệ nam giới trưởng thành hút thuốc lá nhiều nhất trên thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN.

Hút thuốc lá gây ra nhiều bệnh mạn tính, bệnh nan y; là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu nhưng hoàn toàn có thể phòng tránh được. Bên cạnh các tác hại về sức khoẻ, thuốc lá còn gây ra tổn thất về kinh tế đối với cá nhân, gia đình, xã hội và môi trường. Theo ước tính từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease Study) mới nhất được WHO trích dẫn, hút thuốc lá đã giết chết 103.000 người mỗi năm tại Việt Nam, trong đó, có 84.500 ca tử vong do hút thuốc chủ động và 18.800 người tử vong do các bệnh liên quan đến hút thuốc thụ động .

Theo WHO, trong năm 2024 ước tính chi phí y tế và kinh tế hàng năm do thuốc lá gây ra ở Việt Nam lên tới 108.700 tỷ đồng, tương đương 1,14% GDP4. Con số này bao gồm cả tổn thất về số lượng và chất lượng lao động do bệnh tật và tử vong sớm. Ngoài ra, chi phí ô nhiễm môi trường do thuốc lá (phá rừng, rác thải nhựa, ô nhiễm nước biển...) ước tính là 99.000 tỷ đồng/năm (tương đương 1,04% GDP). Tổng cộng, thuốc lá "đốt" hơn 2% GDP mỗi năm, tạo gánh nặng kép lên y tế và môi trường. Việc sử dụng thuốc lá cũng có tác động tiêu cực đến các hộ nghèo và gia tăng bất bình đẳng xã hội. Nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình có người hút thuốc phải chi tiêu một phần đáng kể thu nhập cho thuốc lá, làm giảm khả năng chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu khác như y tế, giáo dục và dinh dưỡng; đẩy nhiều hộ vào tình trạng nghèo đói .

Do vậy, cần tiếp tục hoàn thiện và tăng cường thực thi chính sách để giảm tỷ lệ hút thuốc lá nhằm đạt được mục tiêu đến năm 2030: Giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá trong nhóm nam từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 36 %; nhóm nữ từ 15 tuổi trở lên xuống dưới 1%; giảm tỷ lệ tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá tại nơi làm việc xuống dưới 25%; tại nhà hàng xuống dưới 65%; tại quán bar, cà phê xuống dưới 70%; tại khách sạn xuống dưới 50% đã được đề ra tại Quyết định 568/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về PCTH thuốc lá đến năm 2030.

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tiễn trong nước và khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, một số chính sách PCTH thuốc lá trọng tâm năm 2026 bao gồm:  

 Chính sách môi trường không khói thuốc hoàn toàn (100%) tại các địa điểm công cộng

Tổ chức Y tế Thế giới khẳng định chỉ có môi trường hoàn toàn không khói thuốc mới bảo vệ hiệu quả sức khỏe cộng đồng. Các giải pháp trung gian như khu vực dành riêng cho người hút thuốc hay hệ thống thông gió đều không thể ngăn chặn bụi mịn PM2.5 và các chất gây ung thư khuếch tán qua hệ thống điều hòa trung tâm . Đến năm 2024, đã có 79 quốc gia ban hành lệnh cấm tuyệt đối trong nhà để bảo vệ người dân, hỗ trợ người cai thuốc và giảm tỷ lệ hút thuốc ở giới trẻ .

Nhiều nghiên cứu quốc tế tại Mỹ, Ireland, Thái Lan và Singapore đã chứng minh quy định cấm hút thuốc 100% không gây tác động tiêu cực đến doanh thu hay việc làm trong ngành dịch vụ, khách sạn . Ngược lại, chính sách này còn giúp doanh nghiệp giảm 10%  chi phí vệ sinh, hạn chế nguy cơ cháy nổ và thu hút khách hàng gia.

Việc bỏ các khu vực hút thuốc riêng, thực hiện môi trường 100% không khói thuốc giúp công tác thực thi trở nên đơn giản, minh bạch, bảo vệ quyền được hít thở không khí trong lành của mọi công dân, giúp bảo vệ phụ nữ và trẻ em khỏi khói thuốc thụ động, giảm sự “bình thường hóa” của hành vi hút thuốc trong cộng đồng, đặc biệt tại các địa điểm hiện còn cho phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc như tại sân bay, khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch, tàu thủy và tàu hỏa, …

 Chính sách in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá

Bằng chứng toàn cầu cho thấy diện tích hình ảnh cảnh báo lớn là công cụ then chốt để thay đổi nhận thức và hành vi của người tiêu dùng. Việc tăng diện tích cảnh báo sức khỏe giúp giảm sức hấp dẫn của các sản phẩm thuốc lá, ngăn chặn các thông tin gây hiểu lầm và đặc biệt hiệu quả trong việc truyền tải thông tin trực quan về tác hại của thuốc lá đến trẻ em và người không biết chữ. Mỗi bao thuốc lá khi đó sẽ trở thành một “kênh truyền thông” miễn phí và trực tiếp của Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc ngăn ngừa người trẻ bắt đầu hút thuốc và giảm gánh nặng chi phí điều trị bệnh tật trong dài hạn .

Tại Việt Nam, quy định diện tích cảnh báo hiện nay là 50%. Hiện Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ diện tích cảnh báo sức khoẻ thấp nhất thế giới (xếp thứ 95/140 quốc gia) và thấp nhất khu vực ASEAN .

Trong khu vực ASEAN, 10 quốc gia đều đã in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên cả mặt chính trước và sau của bao bì thuốc lá. Thái Lan, Lào, Singapore và Brunei là các nước dẫn đầu trong khu vực, với diện tích cảnh báo 85% ở Thái Lan và 75% ở Brunei, Singapore.

Không chỉ dừng ở cảnh báo hình ảnh với diện tích lớn, nhiều quốc gia hiện đã tiến thêm một bước với bao bì tiêu chuẩn/bao trơn. Trong khi đó, Việt Nam nằm trong số 3 quốc gia có diện tích cảnh báo thấp nhất khu vực ASEAN. Bên cạnh đó, hình ảnh và thông điệp về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người in trên bao bì các sản phẩm thuốc lá đã thực hiện 13 năm nhưng chưa có thay đổi về hình ảnh và nội dung. Theo kinh nghiệm của các nước việc không thay đổi, làm mới các hình ảnh và thông điệp in cảnh báo sức khỏe trên bao bì các sản phẩm thuốc lá sẽ dần làm mất tác dụng cảnh báo đối với người tiêu dùng.

 Chính sách cấm trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán 

Luật Quảng cáo và Luật PCTH thuốc lá quy định thuốc lá là sản phẩm bị cấm quảng cáo. Việc trưng bày tại điểm bán thực chất là một kênh quảng bá thông qua các kệ trưng bày, vật dụng hỗ trợ như đèn chiếu sáng…

Luật PCTH thuốc lá quy định mỗi điểm bán không trưng bày quá một bao/tút/hộp của một nhãn hiệu thuốc lá. Tuy nhiên, Báo cáo tổng kết 13 năm thi hành Luật PCTH thuốc lá cho thấy tình trạng trưng bày quá một bao, một tút cho một sản phẩm thuốc lá tại điểm bán thuốc lá khá phổ biến. Các nghiên cứu về các hình thức vi phạm quy định cấm quảng cáo tại các điểm bán lẻ thuốc lá tại Việt Nam do Trường Đại học Y tế công cộng thực hiện thời gian qua cho thấy tỉ lệ vi phạm các quy định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá tại các điểm bán lẻ thuốc lá trên toàn quốc khá cao. 82,5% điểm bán vi phạm quy định về trưng bày quá một bao/một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc lá. Tình trạng này khiến người dân, đặc biệt là trẻ em, tiếp xúc thường xuyên với hình ảnh thuốc lá, biến điểm bán thành một kênh quảng cáo trá hình. Điều này không chỉ kích thích hành vi hút thuốc mà còn gây áp lực tâm lý làm giảm hiệu quả của việc cai nghiện thuốc lá.

Công ước khung về Kiểm soát Thuốc lá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO FCTC) yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng lệnh cấm toàn diện đối với quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, bao gồm cả việc trưng bày tại điểm bán. Mục tiêu của chính sách nhằm:

- Giảm sự hấp dẫn và khả năng tiếp cận thuốc lá đối với giới trẻ thông qua việc loại bỏ hoàn toàn yếu tố trưng bày tại điểm bán,

- Giảm thiểu việc bình thường hóa hành vi hút thuốc, hạn chế tác động thị giác khuyến khích sử dụng thuốc lá, đồng thời giảm hành vi mua ngoài dự định, đặc biệt ở nhóm thanh thiếu niên hoặc những người đang trong quá trình cai nghiện;

- Hỗ trợ người hút thuốc cai nghiện bằng cách loại bỏ các tác nhân gợi nhớ và kích thích tiêu dùng, qua đó xây dựng môi trường thuận lợi hơn cho việc bỏ thuốc; tăng cường hiệu quả thực thi các quy định hiện hành về cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.

Tính đến cuối năm 2024, trên thế giới đã có 59 quốc gia ban hành quy định cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán. Trong khu vực ASEAN có 05 nước đã cấm trưng bày bao gồm: Thái Lan, Brunei, Singapore và Lào, Malaysia.

Quy định cấm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng trong Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội quy định: “Quốc hội thống nhất cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng”. Luật đầu tư số 143/2025/QH15 đã cấm kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Sau khi có Nghị quyết số 173/2024/QH15, tình hình ngộ độc do sử dụng TLĐT đã giảm đáng kể. Theo dữ liệu sơ bộ từ Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, trước khi có quy định cấm, trong vòng 22 tháng Trung tâm Chống độc tiếp nhận 120 trường hợp cấp cứu liên quan đến sử dụng TLĐT hoặc TLNN, tức là trung bình 5-6 trường hợp trong mỗi tháng. Sau khi có quy định cấm, mỗi tháng Trung tâm chỉ điều trị 1-2 trường hợp cấp cứu liên quan đến TLĐT, TLNN.

Việc quảng cáo công khai các sản phẩm này của những người có ảnh hưởng dường như cũng đã chấm dứt. Kết quả này cho thấy sự can thiệp kịp thời của chính sách đã trực tiếp bảo vệ tính mạng người dân và giảm bớt gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế điều trị các ca ngộ độc cấp tính. 

Do vậy, cần phải bổ sung quy định cấm sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển, quảng cáo, khuyến mại, tài trợ, chứa chấp, sử dụng TLĐT, TLNN, thuốc lá mới khác tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật PCTH thuốc lá.

Nguyễn Minh