Trong nhiều năm qua, hoạt động phòng chống các thiếu vi chất dinh dưỡng được quan tâm đặc biệt với những cam kết mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

 Những nỗ lực đó đó dã mang lại kết quả to lớn: một số chương trình phòng chống thiếu Vi chất dinh dưỡng quan trọng như thiếu lốt, thiếu vitamin A và thiếu máu thiếu sắt  đã trở thành các chương trình dinh dưỡng nền tảng ở nhiều nước và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu cải thiện dinh dưỡng của nhân loại.

            Tháng 5 năm 2013. Đại Hội đồng Liên hiệp quốc nhất trí rằng phòng chống thiếu các Vi chất dinh dưỡng quan trọng phải trở thành mục tiêu phát triển toàn cầu. Liên hiệp quốc kêu gọi loại trừ về căn bản thiếu lốt vào năm 2005, loại trừ thiếu vitamin A vào 2010 và giảm tối thiểu 30% tỷ lệ thiếu máu vào 2010. Trên phạm vi toàn càu, bước sang 5 năm đầu tiên của thế kỷ XXI, tỷ lệ thiếu hụt lốt đã hạ xuống còn dưới 15%, ước tính mỗi năm còn khoảng 70 triệu trẻ sơ sinh được bảo vệ khỏ tình trạng suy giảm trí tuệ, khoảng 300.000 trẻ em thoát khỏi tử vong do được bổ sung vitamin A liều cao và hàng trăm ngàn trẻ khác thoát khỏi mù loà do thiếu vitamin A. Nhiều quốc gia đã mạnh dạn áp dụng giải pháp tăng cường vitamin A, sắt, axit folic vào thực phẩm như bột mì, đường, dầu ăn, nước mắm, xì dầu, bột canh.

            Tại Việt Nam, hoạt động bổ sung vitamin A liều cao đã góp phần thanh toán thể lâm sàng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, bổ sung viên sắt & axit folic đã giảm đáng kể tình trạng thiếu máu dinh dưỡng. Tuy nhiên, thiếu vitamin A tiền lâm sàng, thiếu máu vẫn còn là những vấn đề còn ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng. Chương trình phòng chống thiếu lốt cơ bản đạt được mục tiêu vào năm 2005, tuy nhiên, tình trạng thiếu lốt vẫn tồn tại ở một số vùng. Các can thiệp phòng chống thiếu Vi chất dinh dưỡng đang là mục tiêu hành động của nhiều chương trình dinh dưỡng trong thời gian tới.

I- THỰC TRẠNG THIẾU MỘT SỐ VI CHẤT Ở VIỆT NAM:

            1. Thực trạng thiếu vitamin A.

            Trước những năm 1980, có khoảng 30-50% trẻ suy dinh dưỡng nặng nhập viện bị bệnh khô mắt do thiếu vitamin A. Trong những năm đầu của thập kỷ 80 tình hình bệnh khô mắt ở trẻ em Việt Nam do thiếu vitamin A cao hơn 7 lần  so với ngưỡng quy định mức ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng của Tổ chức Y tế thế giới. Từ năm 1994 đến nay, thể nặng tổn thương lâm sàng do thiếu vitamin A đã giảm dưới mức ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng. Tình trạng thiếu vitamin A tiền lâm sàng ( vitamin A trong huyết thanh thấp) ở trẻ dưới 5 tuổi có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức trung bình về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng ( 14,2%).

            2. Thực trạng thiếu máu dinh dưỡng.

            - Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1980 -1988 chứng minh thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em và phụ nữ tuổi sinh đẻ phổ biến ở mức ý nghĩa suc khoẻ cộng đồng (30 - 80% tuỳ theo vùng sinh thái). Thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi có xu hướng giảm từ 34,1% năm 2000 xuống còn 29,2% năm 2009, trong đó 52,9% trẻ bị thiếu máu là do thiếu sắt. Cho đến nay, vẫn đề thiếu máu dinh dưỡng vẫn ở mức trung bình về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng. Kết quả điều tra toàn quốc năm 2009 cho thấy: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai là 36,5% (trong đó có tới 71,8% thiếu máu là do thiếu sắt); 28,8% phụ nữ tuổi sinh đẻ bị thiếu máu ( có 46,9% chị em bị thiếu máu do thiếu sắt). Ngoài nguyên nhân chủ yếu của thiếu máu là do thiếu sắt  thì thiếu máu  còn do thiếu kết hợp với các Vi chất  khác như folate vitamin nhóm B. Tỷ lệ thiếu máu có sự khác biệt lớn giữa các vùng: Vùng núi có tỷ lệ thiếu máu cao hơn vùng đồng bằng. Hầu hết các tỉnh hiện nay ở mức thiếu trung bình ( tỷ lệ thiếu máu trong khoảng 20- 40%); tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em < 5 tuổi vùng núi Tây Bắc lên tới 43% ( mức nặng về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng). Cũng cần nhấn mạnh rằng, xu hướng giảm chậm về tỷ lệ thiếu máu xảy ra trên toàn thế giới chứ không phải riêng ở Việt Nam. Nguyên nhân có thể là do khẩu phần ăn ở đại đa số các nước đang phát triển còn chưa đáp ứng  đủ nhu cầu sắt cho phụ nữ có thai. Khi mang thai nhu cầu sắt lên tới 59mg sắt/ ngày. Trong khi khẩu phần thực tế mới đạt khoảng 50% nhu cầu khuyến nghị.

            Thiếu máu do thiếu sắt có xu hướng kết hợp với thiếu selen, kẽm và một số vi chất khác ở người Việt Nam.

            Một số nghiên cứu gần đây ở nước ta cho thấy một đối tượng nguy cơ thường bị thiếu nhiều vi chất đồng thời: thiếu selen tương quan chặt chẽ với thiếu máu do thiếu sắt ở người trưởng thành và ở trẻ em, 79,4% trẻ em có thiếu jeets giwoh từ 2 Vi chất  trở lên, 17,3% thiếu kết hợp 4 vi chất và 5,3% thiếu 5 vi chất kết hợp; 45,7% thiếu máu kết hợp với thiếu kẽm, 39,9% thiếu máu kết hợp với thiếu selen và thiếu máu kết hợp thiếu magiê chiếm tirleej 30%.

            Một số nghiên cứu cho thấy việc can thiệp bằng bổ sung đồng thời đa vi chất dinh dưỡng cho trẻ em là cần thiết và cho hiệu quả cao hơn với bổ sung 1 vi chất đơn lẻ.

            3. Thiếu acid Folic:

            Một số thống kê theo dõi qua các năm cho thấy tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị dạng ống thần kinh do thiếu folát trên cộng đồng chiếm khoảng 12% trong số các dị dạng khi sinh. Những trẻ này có tỷ lệ tử vong cao > 90% trong năm đầu sau sinh. Nếu người mẹ được bổ sung đủ axit folic từ trước khi mang thai sẽ góp phần làm giảm 50% tỷ lệ sơ sinh bị khuyết tật ống thần kinh.

            4. Thiếu lốt:

            Việt Nam  đã thanh toán các rối loạn do thiếu lốt vào năm 2005 và đạt các chỉ tiêu đề ra về tỷ lệ bướu cổ trẻ em, tỷ lệ lốt miệu thấp tỷ lệ bao phủ muối lốt... Tuy nhiên, hiện nay việc tăng cường muối Iốt tự nguyện, nồng độ Iốt niệu cũng như độ bao phủ của muối Iốt có xu hướng giảm, báo hiệu một nguy cơ các rối loạn do thiếu Iốt quay trở lại.

            5. Thiếu kẽm:

            Cũng là vấn đề đáng chú ý hiện nay, bổ sung kẽm có tác dụng tăng miễn dịch, giảm tiêu chảy, tăng chiều cao ở những trẻ suy dinh dưỡng thấp còi. Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ < 5 tuổi ở Việt Nam là 81,2% và có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng sinh thái ( dao động từ 30% đến 92% tuỳ từng vùng). Tổ chức Y tế thế giới đã có khuyến nghị cụ thể về bổ sung kẽm bắt bộc trong xử lý tiêu chảy ở trẻ em. Ở nước ta, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định số 4121/QĐ- BYT, ngày 28/10/2009 về việc xử lý trẻ tiêu chảy, bổ sung kẽm bắt bộc với liều 20mg kẽm nguyên tố trong 14 ngày đối với trẻ trên 6 tháng và 10 ml kẽm/ ngày x 14 ngày đối với trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng.

            Nhìn chung, tình trạng thiếu Vi chất dinh dưỡng có xu hướng giảm chung trên toàn quốc, tuy nhiên mức độ giảm không đồng đều giữa các vùng sinh thái, tỷ lệ còn cao, ở mức nặng về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng tại một số vùng, tỉnh thành , đặc biệt ở vùng núi, vùng nghèo, điều kiện kinh tế còn khó khăn, trang thiết bị và điều kiện y tế cơ sở chưa đầy đủ. Tại những vùng này, đòi hỏi các chương trình can thiệp ưu tiên hơn các vùng khác. Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao kiến thức và thực hành dinh dưỡng cho người dân, thì những hỗ trợ về trang thiết bị chăm sóc sức khoẻ cho y tế cơ sở, hỗ trợ những Vi chất quan trọng ( Vitamin A, Sắt/ Folic, Kẽm, viên đa vi chất, gói đa vi chất) cho các đối tượng có nguy cơ ( trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ, vị thành niên) là rất cần thiết, nhằm từng bước đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng, đảm bảo cho người mẹ không bị thiếu vi chất dinh dưỡng, trẻ không bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai, trong những năm đầu đời và tuổi học đường,

 II- ĐỊNH HƯỚNG PHÒNG CHỐNG THIẾU VI CHẤT DD GIAI ĐOẠN 2011-2020:

            1. Quan điểm về định hướng:

            - Thiếu một số Vi chất dinh dưỡng đang là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng ở Việt Nam. Việc đảm bảo nhu cầu các vi chất dinh dưỡng để phòng tránh tình trạng thiếu hụt ở các đối tượng có nguy cơ cao như trẻ em, bà mẹ có thai, cho con bú, trẻ em tuổi học đường thường không dễ dàng. Chính vì vậy cần tiếp tục có các can thiệp đặc thù cho các nhomsnguy cơ cao nói trên.

            - Thiếu vu chất dinh dưỡng có thể xảy ra ở nhiều đối tượng, trong khi đó trên một đối tượng có thể thiếu cùng một lúc nhiều vi chất dinh dưỡng quan trọng như Vitamin A, sắt, kẽm, Axit Folic...Việc cải thiện năng lực khẩu phần ăn không luôn luôn song hành với việc cải thiện Vi chất dinh dưỡng ăn vào. Do đó, cần xem xét tới việc bổ sung nhiều vi chất dinh dưỡng phối hợp mới có thể mang lại hiệu quả tốt.

            - Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy người mẹ bị thiếu Vi chất dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ tới suy dinh dưỡng bào thai, việc cải thiện Vi chất cho bà mẹ trước và trong thời kỳ thai nghén có hiệu quả tốt tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ, chính vì vậy cần có các can thiệp trên đối tượng là bà mẹ, càng sớm càng tốt.

            - Vai trò của việc nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung hợp lý rất quan trọng đối với phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng trong năm đầu tiên của cuộc đời. Cần đẩy mạnh công tác Giáo dục - truyền thông dinh dưỡng, hướng dẫn thực hành và cải thiện chất lượng chăm sóc trẻ.

            - Ở điều kiện một nước nhiệt đới như nước ta, bên cạnh nhiễm khuẩn thì  mắc cái bệnh nhiễm ký sinh trùng như gin, sán đóng vai trò quan trọng  đối với thiếu Vitamin A, thiếu máu dinh dưỡng cũng như thiếu một số vi chất dinh dưỡng khác. Vì thế, cần sớm áp dụng các can thiệp phòng chống giun sán trong khuôn khổ mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng, trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn.

            - Kinh nghiệm phòng chống các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng trong giai đoạn vừa qua trên thế giới và ở nước ta cho thấy, để giải quyết một vấn đề thiếu vi chất dinh dưỡng (chẳng hạn thiếu máu thiếu sắt hay thiếu Vitamin A...) luôn đòi hỏi sự phối hợp của nhiều giải pháp khác nhau. Sẽ là không đủ và không hiệu quả nếu chỉ áp dụng một giải pháp can thiệp đơn lẻ.

            - Sự cam kết mạnh mẽ, liên tục của Chính phủ và cộng đồng đối với phòng chống Vi chất dinh dưỡng và hết sức cần thiết.

            - Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước với các doanh nghiệp thực phẩm và các cơ quan chịu trách nhiệm về chương trình can thiệp. Một chiến lược "Dựa vào thực phẩm" (food - based approach), tăng cường vi chất vào thực phẩm sẽ không thành công nếu không có sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp thực phẩm. Đây cũng là hướng đi mới và cơ hội mới cho những nỗ lực phòng chống thiếu Vi chất dinh dưỡng ở nước ta trong thời gian tói.

            2. Các giải pháp cơ bản.

            - Truyền thông dinh dưỡng về đa dạng hoá bữa ăn, dựa vào nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương...

            - Bổ sung các chế phẩm vi chất: viêm nang Vitamin A liều cao, 2 lần/ năm cho đối tượng là  trẻ em  6-36 tháng tuổi; 1 liều cho phụ nữ sau sinh; trẻ em bị  bệnh SDD, tiêu chảy, viêm đường hô hấp vào viện ( theo phác đồ điều trị); bổ sung viêm sắt và axit, folic; viên. Gói đa vi chất cho phụ nữ mang thai, phụ nữ tuổi sinh đẻl bổ sung kẽm cho trẻ bị tiêu chảy.

            - Tăng cường vi chất vào thực phẩm, đưa sắt, Vitamin A, kẽm và các vi chất dinh dưỡng khác và thực phẩm, vào bột dinh dưỡng khác vào thực phẩm, vào bột dinh dưỡng cho trẻ em, vào bánh quy, vào đường, vào nước mắm, mỳ ăn liên... Lai tạo giống thực phẩm mới giàu Vi chất dinh dưỡng.

            - Kết hợp với các chương trình y tế khác như chăm sóc sức khoẻ sinh sản, tiêm chủng mở rộng, tẩy giun, nước sạch, vệ sinh môi trường...

            Theo khuyến nghị của tổ chức Y tế thế giới, quỹ nhi đồng liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế, bổ sung đa vi chất dinh dưỡng, tăng cường Vi chất vào thực phẩm cần được quan tâm nghiên cứu, áp dụng và mở rộng cho đối tượng phụ nữ tuổi sinh đẻ, trẻ em ở các nước đang phát triển, nhằm cải thiện đồng thời thiếu nhiều Vi chất dinh dưỡng, tiết kiệm chi phí, nang lại hiệu quả cao. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế ADB/WB, việc đầu tư cho chương trình vi chất dinh dưỡng sẽ mang lại lợi nhuận về kinh tế khoảng 10-12 lần số vốn đầu tư sau 10 năm.

 KẾT LUẬN

            Thiếu một số vi chất dinh dưỡng vẫn đang là vấn đề sức  khoẻ cộng đồng ở Việt Nam, các đối tượng có nguy cơ cao là trẻ em và phụ nữ. Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phòng chống thiếu Iốt, thiếu Vitamin A và thiếu máu thiếu sắt; Cần duy trì bền vững theo hướng cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho người Việt Nam, từ đó cải thiện bền vững tình trạng thiếu Vi chất dinh dưỡng.

            Muốn triển khai có hiệu quả cần phối hợp nhiều giải pháp can thiệp đồng bộ, có sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ, các Doanh nghiệp thực phẩm và các cơ quan nghiên cứu trong sứ mệnh loại trừ và tiến tới thanh toán các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng ở nước ta.

 

 

PGS. TS: Lê Bạch Mai -  Phó Viện trưởng - Viện dinh dưỡng