Trong dân gian, Rắn còn có cái tên là “Xà”. Dù không đa dạng và phong phú như dòng họ nhà rắn, nhưng các dược liệu mang tên “Xà” không thể thiếu được trong kho tàng thuốc y dược cổ truyền Việt Nam và hiện nay bản thân một vài loại rắn (xà) cũng được sử dụng làm món ăn hoặc làm thuốc trị bệnh cho con người.
Xem hình

Cỏ lưỡi rắn

Cỏ lưỡi rắn còn được biết đến nhiều là Bạch hoa xà thiệt thảo. Có tên khoa học là Oldenlandia diffusa (Willd.) Roxb, họ Cà phê  (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta. Bộ phận dùng: phần trên mặt đất. Thành phần hóa học chính là Acid hữu cơ. 

Cỏ lưỡi rắn trong y học cổ truyền có công dụng: chữa sốt, chữa ho, dùng trong một số bài thuốc chữa ung thư. Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dược liệu khô, dùng kết hợp với các vị thuốc khác. 

Hiện Cỏ lưỡi rắn có trong một vài chế phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư như chế phẩm “Viên nguồn sống”, được bào chế tại Viện Y dược học Dân tộc TP.HCM.

Bạch hoa xà (Tên khác: Cây đuôi công)

Có tên khoa học là Plumbago zeylanica L., họ Đuôicông (Plumbaginaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam, có ở các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc… Bộ phận dùng: rễ, lá. Thành phần hoá học: Plumbagin (metyl-2-hydroxy-5-naphtoquinon-1-4). 

Công dụng: Làm thuốc chữa bệnh ngoài da, mụn nhọt ghẻ lở. Rễ, lá giã nhỏ đắp lên nơi sưng đau. Sắc rễ lấy nước bôi ngoài trị bệnh ngoài da. 

Ở nước ta còn có cây mang tên Đuôi công hay Xích hoa xà (Plumbago rosea L.), nhân dân sử dụng như cây Bạch hoa xà.

Xà sàng tử (Semen Cnidii Monnieri)

Xà sàng tử còn gọi Xà sàng thực, là quả chín phơi hay sấy khô của cây Xà sàng có tên khoa học Cnidiummonnieri (L) Cusson. Tính vị, quy kinh: vị cay – đắng, tính ôn, quy kinh thận. Xà sàng tử có các thành phần như tinh dầu 1,3%, có mùi hắc đặc biệt 1-pinene, 1-camphene, bomyl Isovalerate, Isobomeol, ostole, cnidimine, Isopimpinellinie, dihydro oroselol, columbianadin,cnidiadin, archangelicin.

Trong y học cổ truyền, Xà sàng tử có tác dụng sát trùng, trừ phong hàn, tăng hoạt động của thận dương. Chủ trị các chứng: bệnh ngoài da có tiết dịch, ngứa, đau lưng, suy nhược sinh chức năng tình dục ở nam và nữ. Tác dụng dược lý: có tác dụng như nội tiết tố testosteron, giúp tăng trọng lượng tử cung, buồng trứng và làm thuốc ức chế nấm ngoài da, có tác dụng diệt trùng roi âm đạo. Xà sàng tử Nhật Bản có tác dụng tẩy xổ lãi đũa.

Trong ứng dụng lâm sàng, Xà sàng tử có công dụng trị:

-       Trị trùng roi, viêm bộ phận sinh dục nữ do vi khuẩn hoặc nấm.

-       Trị các bệnh ngoài da do dị ứng, chàm thể tạng…

-       Suy nhược chức năng tình dục ở nam và nữ với bài thuốc thường dùng:

o  Tam tử hoàn: Xà sàng tử, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử lượng bằng nhau, làm hoàn mỗi lần uống 5g, ngày 2 lần.

o Xà sàng tử 10g, Dâm dương hoắc 8g, Sơn thù 10g, Tiểu hồi hương 2g, nước 600ml sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

-       Trị sa trực tràng:Xà sàng tử 40g, Cam thảo 40g tán nhỏ trộn đều, mỗi lần uống 3g, ngày uống 3 lần.  Liều thường dùng: uống 3 - 10g, sắc nước, hoàn tán. Dùng ngoài lượng vừa đủ.

Cây Xà cô(Củ gió đất, Balanophora sp.)

Trong dân gian thường dùng làm tăng lực, kích thích sự ngon miệng, trị rối loạn tiêu hoá, đau mỏi tứ chi, đặc biệt cho phụ nữ sau sinh. Phục hồi sức khỏe sau bệnh nặng.

Cây Xà cô thường dùng dạng sắc uống riêng hoặc kết hợp các vị thuốc khác, hoặc dạng ngâm rượu.

Cây xà mẫu (Xà mẫu thảo, Dâu núi, tên khoa học: Duchesnea indica (And.) Focke).

Chứa nhiều chất thuộc các nhóm: Triterpen, Tanin, và các loại acid hữu cơ. Có tác dụng dược lý: trên thực nghiệm, nước sắc Cây Xà mẫu có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.

Theo kinh nghiệm dân gian dùng cây này chữa bệnh lỵ, viêm đại tràng mạn tính, cảm sốt, ho, viêm họng, côn trùng đốt, dị ứng. Riêng tác dụng chống ung thư chưa có tài liệu nghiên cứu.

Xà lách xoong (Cải xoong, Nasturtium officinale R. Br. Họ Cải: Brassicaceae).

Thu hái trước khi ra hoa và dùng tươi; chứa vitamin A, C, Iod, sulfat kali hydrogen có mùi vị đặc biệt và có tác dụng làm dịu cơn ho. Ngoài ra, Cải xoong còn chứa các nguyên tố vi lượng: Cali, mangan, kali, kẽm, magne’, phosphor. Có tác dụng dược lý: kháng khuẩn, lợi tiểu. Dùng làm thuốc hạ sốt, thải độc, và là loại rau được ưa chuộng có trong bữa ăn hàng ngày của người dân.

Xà thảo(Mạch môn đông, tên khoa học: Pphiopogon japonicas (L.) Ker. Gawl)

Người ta thường dùng rễ củ của cây 2 – 3 năm tuổi. Xà thảo có chứa 5 loại glucosid, saponin steroid. Tác dụng dược lý: chống viêm, ức chế sự phát triển của một số vi khuẩn, hạ đường máu. Có tính vị: vị ngọt, hơi đắng, tính mát, vào kinh phế. Có công dụng: chống ho, hạ nhiệt, giúp ổn định đường máu.

Cây sống rắn (Cam thảo cây, sóng rắn nhiều lá- Albizia myriophylla Benth, thuộc trinh nữ - Mimosaceae)

Cây bụi cao 2-4m, mọc dựa vào cây to và vươn cao. Thân cành màu nâu. Lá kép hai lần lông chim chẵn gồm rất nhiều lá chét nhỏ, có 2 tuyến ở cuống lá. Hoa màu trắng mọc thành chùm ở đầu cành, có nhiều nhị. Quả đậu rất mỏng, chứa 4-9 hạt. Mùa hoa quả tháng 4-11. Cây của phân vùng Ấn Độ - Malaixia, mọc hoang ở triền rừng và cũng được trồng làm thuốc. Thu hái vỏ thân, vỏ rễ quanh năm.

Vỏ thân, vỏ rễ - Cortex et Cortex Radix Albiziae Myriophyllae được dùng làm vị thuốc.

Sống rắn có vị ngọt, tính mát, không độc. Lương y Nguyễn An Cư cho biết: Sống rắn tả can nhiệt, thoái tâm hoả, lương huyết, giải độc, trừ ung nhọt, mày đay, tiêu cam sát trùng, giải khát trừ phiền, trẻ con nứt môi, đẹn đều chữa được.

Dân gian thường dùng nó làm thuốc giải nhiệt và chữa ho như Cam thảo; ngày dùng 10-20g sắc uống, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Ở Thái Lan, rễ được dùng giải khát và nhuận tràng; gỗ và quả dùng làm thuốc trị ho.

Rắn

Đại diện là Rắn Hổ mang dùng phổ biến trong chế biến món ăn cũng như y học.

Thịt rắn cung cấp chất đạm rất tốt, nạc nhiều hơn mỡ. Các món ăn được ưa chuộng như: Rắn xúc bánh đa, rắn hầm sả, Chả rắn chiên hột gà…

Cao nấu từ Rắn Hổ mang chứa nhiều acid amin có giá trị dinh dưỡng cao, trong trị liệu cao rắn dùng trị các bệnh lý cơ xương khớp. Ngoài ra, nọc rắn Hổ mang hiện được một số nước nghiên cứu trị các bệnh khó như bệnh ung thư

TTGDSK (ST)