Nhằm tăng cường việc tuân thủ Pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động, giảm thiểu các vụ tai nạn lao động, đặc biệt là các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, Sở Nội vụ yêu cầu các nhà thầu, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh chấp hành nghiêm, đầy đủ các quy định về An toàn, vệ sinh lao động, trong đó lưu ý một số nội dung sau:
Tiếp tục triển khai, thực hiện Chỉ thị 31-CT/TW ngày 19/3/2024 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác An toàn, vệ sinh lao động trong tình hình mới. Tổ chức và triển khai hoạt động của bộ phận An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), bộ phận y tế, Hội đồng ATVSLĐ cơ sở; Mạng lưới An toàn vệ sinh viên tại cơ sở theo quy định tại Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ. Xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch ATVSLĐ. Đối với các công việc phát sinh trong năm kế hoạch thì phải bổ sung nội dung phù hợp vào kế hoạch ATVSLĐ theo Điều 76 Luật ATVSLĐ. Tổ chức huấn luyện ATVSLĐ đúng, đầy đủ cho các nhóm đối tượng theo quy định tại Điều 14 Luật ATVSLĐ; Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 và Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ; Thông tư số 31/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26/12/2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Thực hiện kiểm định kỹ thuật an toàn lao động trước khi đưa vào sử dụng đối với các máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và kiểm định định kỳ trong quá trình sử dụng; khai báo sử dụng theo quy định tại Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016; Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018; Nghị định 04/2023/NĐ-CP ngày 13/02/2023 của Chính phủ. Bảo đảm máy, thiết bị, vật tư, chất được sử dụng, vận hành, bảo trì, bảo quản tại nơi làm việc theo quy chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ hoặc đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ đã được công bố, áp dụng và theo nội quy, quy trình bảo đảm ATVSLĐ tại nơi làm việc theo Khoản 2 Điều 16 Luật ATVSLĐ. Đặc biệt lưu ý đối với các thiết bị áp lực (như lò hơi, bình chịu áp lực, bình chứa khí nén,…) và các thiết bị nâng hạ (như xe nâng hàng, cầu trục, thang máy,…).
Căn cứ pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật địa phương về ATVSLĐ và điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, lao động để xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy trình bảo đảm ATVSLĐ theo Điều 15 Luật ATVSLĐ. Lắp đặt đầy đủ biển cảnh báo, bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt và ngôn ngữ phổ biến của người lao động về ATVSLĐ đối với máy, thiết bị, vật tư và chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ tại nơi làm việc, nơi lưu giữ, bảo quản, sử dụng và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy theo Khoản 6 Điều 16 Luật ATVSLĐ. Bảo đảm nơi làm việc phải đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại khác (quan trắc môi trường lao động) được quy định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và định kỳ kiểm tra, đo lường các yếu tố đó; bảo đảm có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; Tổ chức kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc để tiến hành các biện pháp về công nghệ, kỹ thuật nhằm loại trừ, giảm thiểu yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động theo Khoản 1, Khoản 4 Điều 16 Luật ATVSLĐ, Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ.
Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động, trang bị các thiết bị ATVSLĐ tại nơi làm việc theo Khoản 3 Điều 16 Luật ATVSLĐ, Thông tư số 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2022 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội. Thực hiện khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định tại Điều 21 Luật ATVSLĐ.
Xây dựng, ban hành kế hoạch xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc; tổ chức xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp, lực lượng ứng cứu và báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ hoặc khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc vượt ra
khỏi khả năng kiểm soát của người sử dụng lao động; Tổ chức lực lượng ứng cứu theo Khoản 8 Điều 16; Điều 78; Điều 79 Luật ATVSLĐ. Tổ chức đánh giá và hướng dẫn người lao động tự đánh giá nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ trước khi làm việc, thường xuyên trong quá trình lao động hoặc khi cần thiết theo Điều 77 Luật An toàn, vệ sinh lao động; Thông tư số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Rà soát, phân loại lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 và Thông tư số 03/2025/TT-BLĐTBXH ngày 11/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động để thực hiện đầy đủ các chế độ theo quy định đối với lao động này.
Khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất ATVSLĐ theo quy định tại Điều 34, 35 Luật ATVSLĐ, Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ. Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 38 Luật ATVSLĐ, Thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc tự kiểm tra định kỳ, đột xuất về ATVSLĐ tại cơ sở theo Điều 80 Luật ATVSLĐ, Thông tư số 07/2016/TT- BLĐTBXH ngày 15/5/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Định kỳ báo cáo công tác ATVSLĐ theo Thông tư số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; báo cáo tình hình tai nạn lao động theo Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ.
Diệu Thúy



.jpg)












