Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người ở bất kỳ thời đại nào, với bất kể trình độ ra sao bao giờ cũng nảy sinh các vấn đề xã hội cần phải được quan tâm giải quyết. Đó là hậu quả trực tiếp của quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Kinh nghiệm toàn cầu cho thấy, các vấn đề xã hội nảy sinh cũng giống như các căn bệnh của một thực thể xã hội mà nó chỉ có thể được giải quyết bằng những tri thức và phương pháp khoa học.

Bởi vậy ngành công tác xã hội đã ra đời và phát triển như một ngành khoa học với việc ứng dụng môn khoa học xã hội như tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học, kinh tế học... vào những hoạt động cụ thể với từng cá nhân, từng nhóm xã hội để khắc phục các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội.

Nhiều tổ chức của Liên hiệp quốc như UNDP, UNICEF... đã đặc biệt đề cao công tác xã hội như một cách tiếp cận khoa học và thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển xã hội ở những nước chậm phát triển. Công tác xã hội vì vậy mà đã trở thành một ngành nghề được xã hội trọng dụng tại nhiều nước trên thế giới.

          Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, công tác xã hội với mục đích thực hiện sự điều chỉnh giúp thân chủ vượt qua hoàn cảnh để hoà nhập và phát triển, do vậy cũng có một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sức khoẻ cho mỗi người. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ bao gồm: hoàn cảnh và điều kiện sống, trình độ học vấn và văn hoá, bùng nổ dân số gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, trình độ phát triển khoa học- kỹ thuật... Các giải pháp nhằm tăng cường chăm sóc sức khoẻ gồm có: nâng cao nhận thức của người dân về chăm sóc sức khoẻ, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào những hoạt động chăm sóc sức khoẻ, tôn trọng sự tự quyết và tự lực của cộng đồng đối với những hoạt động chăm sóc sức khoẻ, phổ cập các kỹ thuật thích hợp, thích ứng với khả năng chi trả của người dân để tăng khả năng tiếp cận của mọi người. Cả 4 giải pháp này đều cần có sự ứng dụng của công tác xã hội, song công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hoà giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh và người thân, giữa người bệnh với người xung quanh và giữa người bệnh với cơ sở y tế... Vì lẽ đó, trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, bệnh viện là nơi cần có sự xuất hiện của công tác xã hội nhất. Tại bệnh viện, nhân viên xã hội là một phần trong ê kíp trị liệu. Nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điều kiện sống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của bệnh nhân... Chăm sóc sức khoẻ tại gia đình và cộng đồng cũng rất cần có sự tham gia của của nhân viên xã hội. Họ có thể tham dự vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng như truyền thông giáo dục sức khoẻ, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần...Sự xuất hiện của nhân viên xã hội trong chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng là phương thức để mở rộng mạng lưới chăm sóc sức khoẻ đến với người dân ở mọi nơi, mọi lúc nhằm khuyến khích họ tích cực tham gia giải quyết những vấn đề sức khoẻ bằng chính khả năng của mình và với các phương pháp thích hợp. Đồng thời công tác xã hội còn cần thiết phải được ứng dụng ở cấp hoạch định chính sách về chăm sóc sức khoẻ để mọi người dân đều có cơ hội để hưởng lợi.

Ở nước ta, công tác xã hội được xuất hiện từ cuối những năm 40 của thế kỷ trước tại miền Nam. Sau năm 1975, công tác xã hội không còn được coi là một nghề chuyên môn nữa nhưng vẫn còn một nhóm các nhà khoa học tâm huyết đã cố gắng duy trì ngành học này tại một số cơ sở đào tạo ở thành phố Hồ Chí Minh. Cho đến giữa những năm 90 khi mặt trái của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta đã bộc lộ nhiều nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần giải quyết như: trẻ em đường phố, nghèo đói, tệ nạn xã hội tràn lan ... cũng là lúc công tác xã hội được quan tâm khôi phục, đưa vào giảng dạy tại một số trường đại học. Tháng 10 năm 2004, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chương trình khung đào tạo cử nhân ngành công tác xã hội bậc đại học và bậc cao đẳng tạo bước ngoặt căn bản trong sự phát triển cuả nghề công tác xã hội ở Việt Nam. Đến nay đã có 38 trường đại học, cao đẳng đào tạo cử nhân ngành công tác xã hội. Đặc biệt, ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 trong đó đã xác định rõ mục tiêu, nội dung hoạt động nhằm phát triển công tác xã hội trở thanh một ngành nghề ở Việt Nam bao hàm hệ thống các chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ, các ngạch viên chức và nhân viên công tác xã hội, đồng thời đưa ra phương pháp, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực nhân viên công tác xã hội từ trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sĩ trong các lĩnh vực khác nhau. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong các lĩnh vực của đời sống nói chung cũng như trong lĩnh vực y tế ở nước ta.

Hiện nay, nhiều bệnh viện trung ương và địa phương đang triển khai hoạt động công tác xã hội với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm, tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loại bệnh nhân, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc cho người bệnh; góp phần làm giảm bớt khó khăn cho người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh.

Theo thống kê, hiện tại cả nước có 1.107 bệnh viện với 282.281 giường bệnh; trong đó, có 42 bệnh viện tuyến Trung ương với 21.927 giường bệnh; 348 bệnh viện tuyến tỉnh với 199.342 giường bệnh; 615 bệnh viện huyến với 5.822 giường bệnh; 102 bệnh viện ngoài công lập với 5.822 giường bệnh. Nếu hình thành một mạng lưới hoạt động công tác xã hội tại hàng trăm bệnh viện nêu trên thì cũng có nghĩa là sẽ cần đến hàng trăm nghìn nhân viên xã hội. Hoạt động công tác xã hội ở bệnh viện sẽ không chỉ có vai trò hỗ trợ bệnh nhân mà còn có tác dụng lớn trong việc hỗ trợ thầy thuốc giảm bớt áp lực công việc cũng như nâng cao hiệu quả điều trị. Tại cộng đồng, hiện nay nhiều chương trình mục tiêu y tế quốc gia đang triển khai và rất cần có sự tham dự của nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là các chương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù như quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV tại cộng đồng, phòng chống lao...Tuy nhiên, hoạt động công tác xã hội trong hiện tại chỉ mang tính tự phát, chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý. Đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi. Có thể thấy nhu cầu sử dụng đội ngũ nhân viên công tác xã hội của ngành y tế hiện nay là rất lớn và rất cần thiết ở mọi cấp độ song cần phải căn cứ vào nhu cầu thực tế và khả năng đáp ứng  về nguồn nhân lực để xác định lĩnh vực ưu tiên, lộ trình phát triển sao cho phù hợp. Bởi vậy, sự ra đời của “Đề án phát triển nghề công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2011 - 2020” của Bộ Y tế là rất cần thiết nhằm cụ thể hoá Quyết định số 32 của Thủ tướng Chính phủ vào thực tiễn của lĩnh vực y tế góp phần giải quyết những nhu cầu bức thiết trong chăm sóc sức khoẻ, hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như làm gia tăng sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ y tế.

Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế” hướng đến mục tiêu hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế, góp phần tăng cường chất lượng, hiệu quả của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Cụ thể là: Nâng cao nhận thức và cam kết thực hiện của các cấp lãnh đạo, các cơ sở Y tế, công chức, viên chức Y tế trong toàn ngành Y tế về vị trí, vai trò và việc hình thành, phát triển nghề công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ; Xây dựng thí điểm và nhân rộng mô hình tổ chức của hoạt động công tác xã hội trong một số bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh; Ban hành văn bản hướng dẫn, hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm duy trì và phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế; Xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, tài liệu tham khảo nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và nội dung công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cho các nhóm đối tượng có liên quan trong toàn ngành; Đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng công tác xã hội cho đội ngũ công chức, viên chức và nhân viên y tế, dân số ở các cấp. Phấn đấu đến hết năm 2015 sẽ có 100% nhân viên công tác xã hội chuyên trách và bán chuyên trách ở các mô hình điểm, 40% cán bộ lãnh đạo các cơ sở Y tế tuyến Trung ương, 30% cán bộ lãnh đạo các cơ sở Y tế tuyến tỉnh, 60% nhân viên y tế trong các cơ sở khám, chữa bệnh… được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về công tác xã hội. Đến năm 2020 hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo và dạy nghề công tác xã hội về chăm sóc sức khỏe ở nhiều trình độ và tổ chức đào tạo tại các cơ sở đào tạo trong ngành Y tế.

soytehanoi

 


Tác giả: soytehanoi