Bệnh tim mạch là nhóm bệnh đứng đầu trong 5 nhóm bệnh không lây nhiễm chủ yếu hiện nay. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay tại Việt Nam, bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong.
Tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch trong tổng số các trường hợp tử vong là 40%. Điều này có nghĩa là cứ 10 người chết thì có 4 người bị chết do liên quan tới bệnh tim mạch. Các bệnh động mạch vành tim và tai biến mạch máu não là các bệnh tim mạch phổ biến và nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người… cần phải điều trị và chăm sóc lâu dài.
Chi phí điều trị cho các bệnh nói trên rất lớn do phải điều trị dài ngày (hầu như suốt quãng đời còn lại), thuốc và phương tiện kỹ thuật đắt tiền, ngoài ra còn phải kể đến những chi phí gián tiếp do người nhà phải chăm sóc… Nhìn chung, bên cạnh việc ảnh hưởng tới sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống thì thiệt hại về kinh tế do bệnh không lây nhiễm nói chung và các bệnh tim mạch nói riêng là rất lớn, cho cả bản thân người bệnh, gia đình và xã hội.
Các bệnh tim mạch nói trên có nhiều yếu tố nguy cơ nhưng tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất và có thể phòng ngừa được. Điều trị tăng huyết áp có thể làm giảm rõ rệt nguy cơ bị đột quị tới 60% và nhồi máu cơ tim giảm 80%. Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg. Đây không phải là một trình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân khác nhau. Tình trạng tăng huyết áp ngày càng gia tăng và phổ biến. Năm 2005, trên thế giới có khoảng 1,56 tỷ người bị tăng huyết áp. Hiện nay, ở Việt Nam có từ 25% đến 30% người trưởng thành bị tăng huyết áp, có nghĩa là cứ 4 người thì có ít nhất 1 người bị tăng huyết áp. Trong khi đó tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành năm 1960 chỉ là 1%. Bất kỳ ai cũng có nguy cơ bị tăng huyết áp, kể cả trẻ em và người trẻ tuổi. Người bị tăng huyết áp thường không có biểu hiện gì khác thường, cho nên tăng huyết áp còn được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.
Khi có cơn tăng huyết áp, người bệnh có thể thấy nhức đầu dữ dội, mờ mắt, choáng váng, chóng mặt. Có khi không có những triệu chứng chủ quan này mà chỉ thấy huyết áp tăng cao một cách đột ngột so với những lần đo trước đây không lâu. Để chẩn đoán xác định một người có bị tăng huyết áp hay không thì cần phải dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình.
Tăng huyết áp được chia làm hai loại là tăng huyết áp nguyên phát và tăng huyết áp thứ phát.
+ Tăng huyết áp thứ phát thường do hậu quả của một bệnh khác như bệnh thận, bệnh u thượng thận…
+ Tăng huyết áp nguyên phát chiếm đại đa số (90%) các trường hợp tăng huyết áp và thường không có nguyên nhân rõ rệt. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều cho thấy rõ có một số yếu tố làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp (gọi là các yếu tố nguy cơ).
Có nhiều yếu tố nguy cơ góp phần gây tăng huyết áp, trong đó có các yếu tố không thể thay đổi được như tiền sử gia đình, tuổi cao, chủng tộc. Các yếu tố khác về lối sống như ăn thừa muối, hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ít vận động thể lực, thường xuyên bị căng thẳng thần kinh là những yếu tố có thể thay đổi được.
- Ăn nhiều muối: chế độ ăn nhiều muối làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp.
- Hút thuốc lá: làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần và khi kết hợp với các yếu tố khác thì sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên gấp nhiều lần.
- Uống nhiều rượu: khoảng 10% người tăng huyết áp có liên quan tới uống rượu. Uống rượu trên 3 cốc/1 ngày sẽ làm tăng nguy cơ tăng huyết áp.
- Thừa cân, béo phì: người bị thừa cân, béo phì có nguy cơ tăng huyết áp cao gấp 2 lần so với người có cân nặng bình thường.
- Ít hoạt động thể lực: lối sống ít hoặc không vận động thể lực sẽ dẫn tới tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, đái tháo đường và béo phì.
- Tiền sử gia đình: người có thành viên trong gia đình bị tăng huyết áp sẽ có nguy cơ bị bệnh này cao gấp 2 lần.
- Tuổi: Người cao tuổi có nguy cơ mắc tăng huyết áp cao hơn người trẻ tuổi.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chủ yếu của bệnh mạch vành và tai biến mạch máu não. Đây là các biến chứng hay gặp và có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người… làm mất khả năng lao động, thậm chí cần được chăm sóc và phục vụ lâu dài. Có một thực tế là số người bị tăng huyết áp rất lớn trong cộng đồng, tỷ lệ người tăng huyết áp tăng rõ rệt ở nước ta nhưng hiện tại số người tăng huyết áp được chẩn đoán còn thấp, số bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị còn ít và số bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị theo đúng cách cũng không nhiều.
Tăng huyết áp còn gây các biến chứng như:
- Phình tách động mạch chủ xảy ra khi thành động mạch chủ bị phình giãn và dòng máu chảy vào giữa các lớp áo của thành động mạch. Động mạch chủ có 3 lớp áo (lớp áo ngoài, áo giữa và áo trong). Đây là một biến chứng của tăng huyết áp cần phải điều trị cấp cứu. Nếu thành động mạch chủ phải bị phình rách toàn bộ sẽ dẫn đến chảy máu ồ ạt làm bệnh nhân tử vong.
- Tăng huyết áp nếu không được kiểm soát sẽ gây những biến chứng ở mắt như làm giảm thị lực và mù loà.
- Biến chứng thận do tăng huyết áp: tăng huyết áp gây ra xơ hoá các tiểu động mạch đến, tiểu động mạch đi và các mao mạch của cầu thận dẫn đến gây rối loạn chức năng của cầu thận và chức năng của ống thận. Hậu quả là gây đái ra protein niệu, có thể đái ra máu vi thể và hậu quả cuối cùng là gây ra suy thận (khoảng 10% các bệnh nhân tăng huyết áp). Khi đã có suy thận thì lại làm huyết áp tăng cao.
- Đột quỵ hay còn gọi là tai biến mạch máu não xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần não đột ngột bị ngưng trệ do tắc nghẽn hoặc vỡ một nhánh động mạch não. Đột quỵ có hai loại: nhồi máu não (do tắc mạch máu não) và chảy máu não (do vỡ mạch máu não). Các triệu chứng thần kinh trung ương khu trú biểu hiện nhanh, ngay tức thì khi tổn thương mạch máu não xảy ra.
Điều trị tăng huyết áp dựa vào: độ tăng huyết áp, các tổn thương cơ quan đích, các yếu tố nguy cơ, cơ địa của người bệnh.
Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp:
• Điều chỉnh lối sống là luôn luôn cần thiết.
• Cần lựa chọn loại thuốc có tác dụng hạ áp thích hợp, ít tác dụng phụ, phù hợp với từng thể lâm sàng (người già, tiểu đường, suy tim, suy vành, có thai, …).
• Số huyết áp cần giảm một cách từ từ (tránh hạ huyết áp quá nhanh).
• Việc điều trị cần lâu dài, liên tục, thậm chí suốt đời.
Do đó cần điều chỉnh lối sống để hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ về tim mạch:
- Giảm cân nặng nếu thừa cân.
- Không hút thuốc lá, thuốc lào.
- Ăn uống hợp lí, không ăn nhiều chất béo bão hòa:
+ Giảm nguồn năng lượng từ chất béo: 15%. Các thực phẩm và món ăn nên hạn chế: Tất cả các thực phẩm nhiều chất béo; Các thực phẩm có nhiều Chlolesterol; Các món ăn có đưa thêm chất béo. Nên thay thế các chất mỡ động vật bằng các loại dầu thực vật.
+ Chọn loại thực phẩm có nhiều chất xơ như: bánh mì đen, ngũ cốc nguyên hạt, khoai củ. Tránh thức ăn có đậm độ năng lượng và chỉ số đường huyết cao như: đường mật, mứt, kẹo, bánh ngọt, chocolate, nước ngọt, …
+ Rau củ càng có màu sắc sặc sỡ càng chứa nhiều chất chống oxy hoá hơn. Rau và quả chín nên chọn loại tươi, có màu xanh thẫm, vàng, đỏ. Tăng cường khoảng 500g rau và quả chín mỗi ngày.
+ Bổ sung viên đa Vitamin, khoáng và vi khoáng tổng hợp.
- Không ăn mặn (giảm muối trong khẩu phần): Mục tiêu của chúng ta bình thường ăn < 5g muối/ngày, nếu có tăng huyết áp thì ăn < 4g muối/ngày.
- Tập thể dục đều đặn: chúng ta tiêu hao 100 kcal khi hoạt động thể thao trong 25 phút hoặc hoạt động thể thao mạnh 15 phút hoặc đi bộ 45 phút.
- Hạn chế uống rượu bia.
- Tránh các căng thẳng, lo âu quá mức.
- Kiểm tra huyết áp thường xuyên.
- Kiểm tra các yếu tố nguy cơ khác: rối loạn đường máu, rối loạn lipid máu…
Nói tóm lại, các bệnh tim mạch nói chung và tăng huyết áp nói riêng đang có khuynh hướng tăng lên rất rõ rệt ở nước ta. Bên cạnh đó, tỷ lệ thừa cân, béo phì, đái tháo đường cũng đang tăng lên rất nhiều. Chính vì vậy, việc điều chỉnh lối sống để hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ về tim mạch là hết sức cần thiết. Nên có khám sức khoẻ định kỳ, nhất là đo huyết áp và làm một số xét nghiệm cơ bản để kịp thời phát hiện những tình trạng bệnh lý, từ đó có biện pháp xử lý thích hợp ./.
(H.D)




.png)

.jpg)









