Hàng năm, vào mùa đông xuân với tiết trời lạnh và ẩm ướt, những bệnh truyền nhiễm phổ biến và nguy hiểm lại có cơ hội phát triển và có nguy cơ bùng phát thành dịch. Tuy nhiên, tất cả những bệnh này đều có vắc-xin phòng bệnh rất hiệu quả và nếu mọi người quan tâm đầy đủ tới việc chủ động phòng bệnh bằng vắc-xin thì nguy cơ dịch bệnh sẽ được giảm thiểu ở mức thấp nhất.
Xem hình
Virut Varicella - zoster gây thủy đậu và tổn thương do thủy đậu trên da

Bệnh nhiễm khuẩn não mô cầu

Bệnh nhiễm khuẩn não mô cầu hay còn gọi là bệnh viêm màng não do não mô cầu sở dĩ được đề cập tới trước tiên vì đây là bệnh nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao nhất. Trước khi có kháng sinh, tỷ lệ tử vong của bệnh này lên tới 50%, hiện đã có nhiều kháng sinh điều trị đặc hiệu nhưng tỷ lệ tử vong vẫn vào khoảng 5-15%. Sau điều trị, khoảng 15-20% trường hợp để lại các dị tật về thính giác, thị giác và những di chứng về thần kinh, vận động. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp và tỷ lệ người lành mang khuẩn tại các vùng lưu hành lại rất cao nên dễ lây lan trong cộng đồng. Đây là bệnh do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra với nhiều týp huyết thanh gây bệnh phổ biến là A, B, C, Y, W135... Ở Việt Nam và các nước châu Á, typ huyết thanh A và C là hai týp gây bệnh chính.

Tuy là bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng chống chủ động được bằng việc tiêm vắc-xin. Hiện có nhiều loại vắc-xin phòng nhiễm khuẩn não mô cầu hiệu quả. Ở Việt Nam đang lưu hành vắc-xin não mô cầu A+C là vắc-xin chống lại hai týp huyết thanh của vi khuẩn gây bệnh phù hợp với sự phân bố của các týp gây bệnh chính ở nước ta. Vắc-xin có hiệu quả cao và an toàn với trên 90% số người được tiêm có kháng thể bảo vệ. Các phản ứng thường gặp sau tiêm là đỏ, đau nơi tiêm, sốt nhẹ và tự khỏi sau 24 giờ. Các phản ứng nặng hoặc toàn thân rất hiếm gặp. Vắc-xin được tiêm liều 0,5ml đường bắp hoặc dưới da. Lứa tuổi tiêm từ 2 tuổi trở lên. Sau mũi tiêm đầu 3 năm cần tiêm nhắc mũi 2 để nâng cao hiệu giá kháng thể bảo vệ. Các đối tượng cần tiêm là trẻ em và thanh thiếu niên, những tập thể đông người như trường học, doanh trại tân binh...

Bệnh cúm

Đây là bệnh nhiễm virut cấp tính do virut cúm thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra. Virút cúm gồm 3 týp huyết thanh A, B, C có khả năng gây bệnh cho người. Týp B và C thường chỉ gây nên các vụ dịch nhỏ (týp B) hoặc tản phát (týp C). Virút cúm týp A gây bệnh cho cả người và động vật và luôn là hiểm hoạ đe doạ sức khoẻ con người do khả năng lây lan nhanh trên diện rộng, độc lực cao và khả năng biến chủng không lường. Cho tới nay, người ta đã phát hiện được 16 kháng nguyên H (từ H1 đến H16) và 9 kháng nguyên N (từ N1 đến N9). Sự kết hợp giữa các kháng nguyên H và N của virut cúm đã tạo ra 144 phân týp khác nhau của virut cúm týp A như A/H1N1, A/ H2N3, A/H5N1, H7N9...

Cúm là bệnh lây theo đường hô hấp với tốc độ lây lan rất nhanh do vậy rất dễ bùng phát thành dịch. Trong lịch sử phát triển của con người, cúm cùng với dịch hạch là hai bệnh đã để lại những thảm họa cho nhân loại với những vụ dịch làm chết hàng triệu đến hàng chục triệu người. Có thể chia ra các chủng cúm của động vật và các chủng cúm của người.

Các chủng cúm của động vật chỉ lưu hành trong các quần thể động vật như gà, chim, lợn... song có thể truyền và gây bệnh cho người một cách ngẫu nhiên trong những điều kiện hiện chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nhiên, với độc lực cao và khả năng biến chủng không thể lường trước của các chủng virut cúm này nên vẫn hiện hữu nguy cơ xảy ra đại dịch cúm ở người một khi các chủng cúm của động vật như A/H7N7, A/H5N1, A/H7N9... biến đổi di truyền để có thể truyền từ người sang người.

Các chủng cúm của người thường được nhắc đến là chủng cúm A/H1N1, A/H3N2, B... Đây là những chủng cúm đã gây ra các đại dịch (A/H1N1) và gây ra dịch cúm hàng năm với tên gọi quen thuộc là cúm mùa.

Để phòng chống cúm, bên cạnh các biện pháp về vệ sinh cá nhân và môi trường, cách ly nguồn nhiễm, khống chế dịch cúm trong các đàn gia cầm... thì biện pháp có hiệu quả cao và kinh tế nhất là sử dụng vắc -xin.

Vắc-xin phòng cúm gia cầm và cúm đại dịch A/H1N1

Vắc-xin phòng cúm A/H7N9 đang được Trung Quốc đưa vào thử nghiệm. Vắc-xin phòng cúm A/H5N1 và A/H1N1 đã được Việt Nam sản xuất thành công và đang trong giai đoạn đánh giá để cấp phép. Tuy nhiên, do đặc điểm dịch tễ của cúm gia cầm cũng như cúm đại dịch nên việc tiêm vắc-xin cho đối tượng nào, khi nào và ở địa phương nào phải do ngành y tế khuyến cáo cụ thể vào những thời điểm phù hợp.

Vắc-xin cúm mùa

Các vắc-xin cúm mùa hiện nay đều gồm 3 chủng A/H1N1, A/H3N2, B đang được lưu hành, sử dụng rộng rãi ở các nước và ở Viêt Nam. Vắc-xin rất an toàn và có hiệu quả bảo vệ cao, trên 90% số người tiêm có đáp ứng miễn dịch. Ngoài các phản ứng nhẹ và tại chỗ, các phản ứng nặng và toàn thân rất hiếm gặp. Các đối tượng cần tiêm bao gồm trẻ em và những đối tượng nguy cơ cao như người cao tuổi, người có bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường, hen xuyễn... Trẻ em 6 tháng đến 3 tuổi tiêm liều 0,25ml. Trên 3 tuổi tiêm liều 0,5ml, tiêm bắp hoặc dưới da. Do các chủng cúm thường biến đổi và hiệu lực của vắc-xin ngắn nên vắc-xin phòng cúm mùa phải được tiêm hàng năm.

Bệnh sởi

 

Sởi là bệnh nhiễm virut cấp tính lây qua đường hô hấp. Đây là bệnh truyền nhiễm phổ biến và dễ mắc nhất trong mùa đông xuân, mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch với sởi đều rất dễ mắc sởi. Khi chưa có vắc-xin tiêm đại trà hầu như mọi người đều bị mắc sởi trước khi đến tuổi trưởng thành, vì vậy hầu hết trẻ em khi sinh ra đều có miễn dịch chống sởi do mẹ truyền cho khi mang thai và kháng thể chống sởi này tồn tại trong khoảng một năm đầu đời. Bệnh do virut sởi thuộc nhóm Morbillivirus trong họ paramyxoviridae. Virut có thể sống trong không khí trong khoảng trên 30 giờ. Virut dễ bị bất hoạt bởi sức nóng trên 500C hoặc dưới ánh nắng mặt trời.

Các dấu hiệu sớm của bệnh sởi với khởi đầu là sốt, viêm kết mạc mắt, chảy nước mũi, ho và có nốt koplik ở niêm mạc miệng, tiếp theo là mọc ban lần lượt từ mặt xuống cơ thể và tay chân rồi ban bay. Bất cứ trường hợp nào trẻ có sốt và phát ban đều cần nghĩ tới sởi và trẻ được đến các cơ sở y tế khám và xét nghiệm. Các xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng thể IgM giúp chẩn đoán xác định ca sởi hoặc Rubella rất đặc hiệu.

Sởi là bệnh lành tính có thể tự khỏi nếu không có các biến chứng. Biến chứng có thể gặp gồm viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh quản, phế quản, khí quản và viêm não. Bệnh có thể gây mờ giác mạc, hỏng toàn bộ giác mạc gây giảm thị lực đến mù vĩnh viễn. Trẻ suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A là những đối tượng có nguy cơ cao nhất. Biến chứng của sởi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi. Nhờ có vắc-xin, số ca tử vong do sởi trên toàn cầu giảm từ 2 triệu ca hàng năm xuống còn nửa triệu và dưới nửa triệu hiện nay. Do vậy không được chủ quan với bệnh sởi vì đó là bệnh rất dễ lây, số mắc luôn rất lớn và có thể tử vong.

Để đề phòng chống bệnh sởi cần làm tốt công tác giám sát bệnh sởi để phát hiện sớm ca bệnh và tiến hành cách ly bao vây nguồn bệnh vì tốc độ lây lan rất nhanh của sởi. Vai trò của các bậc cha mẹ trong việc phát hiện sớm ca bệnh là rất lớn, khi con sốt kèm theo phát ban phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay và tự giác thực hiện các biện pháp cách ly hạn chế lây lan trong cộng đồng. Tuy nhiên, biện pháp chủ động và hiệu quả nhất là tiêm vắc-xin phòng sởi cho trẻ em.

Hiện nay đã có nhiều loại vắc-xin phòng sởi đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt nam. Vắc-xin phòng sởi đơn giá, vắc-xin phòng sởi phối hợp với phòng Rubella, vắc-xin phòng sởi phối hợp với Rubella và quai bị. Ở Việt Nam đang sử dụng vắc-xin sởi do Việt Nam sản xuất và được tiêm miễn phí cho trẻ em. Đây là vắc-xin có chất lượng cao, đạt các tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới với tỷ lệ bảo vệ trên 90% và rất an toàn. Vắc-xin được tiêm với liều 0,5ml với đường tiêm bắp. Đối tượng tiêm là trẻ 9 tháng tuổi tiêm mũi 1 và trẻ đủ 18 tháng tuổi tiêm mũi 2. Nếu vì lý do gì trẻ chưa tiêm mũi 1 hoặc 2 thì bất kỳ thời điểm nào sau tháng thứ 9 khi có điều kiện cần tiêm cho trẻ mũi 1 và sau đó tiêm mũi 2, mũi 2 cách mũi 1 ít nhất 1 tháng. Có thể tin rằng nếu trẻ em được tiêm 2 mũi vắc-xin sởi thì các cháu đã được bảo vệ với bệnh sởi.

Thủy đậu

Thủy đậu là bệnh nhiễm virut cấp tính lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp do Varicella virus thuộc họ Herpesviridae gây ra. Đây là bệnh phổ biến, lưu hành toàn cầu, rất dễ lây lan, mọi lứa tuổi đều có thể mắc. Lứa tuổi nguy cơ là trẻ em dưới 10 tuổi, chiếm 90% số mắc hàng năm. Virut thủy đậu là tác nhân gây bệnh thủy đậu ở trẻ em và bệnh zona ở người lớn nên còn có tên là virut thủy đậu - zona (Varicella - zoster virus -VZV).

Thủy đậu là bệnh lành tính nhưng rất dễ có biến chứng có thể gây tử vong hoặc để lại các dị tật. Các biến chứng của thủy đậu như:

Bội nhiễm với vi khuẩn, viêm phổi thủy đậu, hội chứng Reye, viêm não thủy đậu.

Dị tật bẩm sinh và thủy đậu chu sinh do mắc thủy đậu khi mang thai. Phụ nữ có thai mắc thủy đậu 5 ngày trước sinh có thể làm cho trẻ mắc thủy đậu trong vòng 2 ngày sau sinh với các triệu chứng nặng và tỷ lệ tử vong có thể lên tới 30%. Mẹ mắc thủy đậu trong vòng 20 tuần đầu của thai kỳ có thể làm cho trẻ khi sinh ra bị dị tật bẩm sinh như sẹo trên da, tăng trưởng kém, teo cơ khu trú, chậm phát triển trí tuệ và các bệnh thần kinh về mắt.

Bệnh zona hay còn gọi là bệnh giời leo ở người lớn tuổi (là hậu quả của việc nhiễm virut thủy đậu).

Người lớn tuổi, trẻ em dưới 1 tuổi, người bị suy giảm miễn dịch, phụ nữ có thai khi mắc thủy đậu có tỷ lệ biến chứng cao hơn và bệnh nặng hơn. Để phòng chống thủy đậu cần thực hiện tốt việc phát hiện sớm ca bệnh, cách ly nguồn nhiễm, vệ sinh cá nhân... song biện pháp chủ động và hiệu quả nhất vẫn là sử dụng vắc-xin.

Vắc-xin thủy đậu là vắc-xin sống giảm độc lực với 3 ưu điểm nổi trội: Tính an toàn rất cao (các phản ứng sau tiêm không đáng kể và chủ yếu là sốt và đau tại chỗ tiêm); Khả năng gây miễn dịch bảo vệ phòng thủy đậu rất cao trên 90%; Miễn dịch có được sau tiêm vắc-xin rất bền vững (trên 20 năm).

Vắc-xin được tiêm với liều 0,5ml, tiêm dưới da. Lứa tuổi tiêm: Trẻ em từ 12 tháng tuổi  đến 13 tuổi trước đó chưa mắc thủy đậu, chưa có miễn dịch với thủy đậu đều cần tiêm 1 mũi. Trên 13 tuổi tiêm 2 mũi, cách nhau 4-8 tuần.      

PGS.TS.Đỗ Sỹ Hiển

(Giám đốc TT Nghiên cứu và Tư vấn về sức khỏe cộng đồng, Nguyên Chủ nhiệm CT TCMR quốc gia)


Tác giả: Đỗ Sỹ Hiển